12.5.13

Tôi viết gì khi viết về mẹ



1. 
Hôm nay là Chủ Nhật, ngày 12 tháng 5 năm 2013. Đối với toàn thế giới, hôm nay là Ngày Của Mẹ. Đối với gia đình tôi, hôm nay là ngày tròn 16 năm ngày ba tôi qua đời. Tôi chợt cảm thấy cuộc sống thật có quá nhiều điều trùng hợp thú vị. Rốt cuộc, dù đã thuộc về hai thế giới khác nhau, ba mẹ tôi cũng có chung một ngày của riêng mình, cứ như họ vẫn còn có một mối liên hệ nào đấy. Cũng như những đứa con trên toàn thế giới, tôi mua cho mẹ mình một ổ bánh (tôi không mua hoa vì biết bà vốn không thích phung phí tiền bạc vào những bông hoa), cũng ôm mẹ một cái và cố gắng thốt ra cái câu "Con thương mẹ" một cách ngại ngùng. Tất nhiên, những hành động trên ngoài xuất phát từ sâu trong trái tim bởi ý nghĩ muốn làm một cái gì đó khác biệt so với nhịp sinh hoạt thường ngày của gia đình, nó còn có một chút gì đó chạy theo phong trào và tôi nghĩ điều đó cũng không có gì xấu cho lắm, phải không? Nghĩ lại một chút, cuối cùng tôi muốn kết thúc ngày hôm nay bằng cách viết một cái gì đó về mẹ, người phụ nữ đã dạy tôi tất cả những gì tôi nghĩ là cần thiết cho cuộc sống này. 

2.
Tôi nhớ đã từng đọc một câu truyện ngắn trên báo Hoa Học Trò cách đây đã rất rất lâu. Trong câu truyện được đăng báo, tác giả tả về một giờ học tập làm văn, trong đó giáo viên cho một đề văn miêu tả về mẹ. Có một vài tiếng phàn nàn của các bạn học sinh vì trật tủ và có bạn nói không biết phải viết cái gì về mẹ cả, chính điều này đã làm tác giả buồn và viết ra một câu truyện ngắn. Tóm lại là tôi cũng chỉ nhớ có từng đó và thật tình tôi cũng khó mà trách bạn học sinh nào đó ở trên đã nói không biết phải viết cái gì về mẹ, bản thân tôi có thể dễ dàng vung bút viết về những chuyện, những con người ở tận đâu đâu, thậm chí là ở đâu đó cách đất nước này nửa vòng trái đất, vậy mà để viết ra một đoạn văn đàng hoàng tử tế về mẹ của mình cũng khiến tôi đôi lúc cảm thấy bất lực. Mỗi khi nghĩ về mẹ của mình, những hình ảnh về quá khứ, cảm xúc về tình mẫu tử luôn làm tôi cảm thấy mình khó mà tìm được một từ ngữ nào thích hợp để miêu tả về những gì mẹ đã làm cho mình. Và hôm nay, trong ngày dành cho mẹ, tôi cố gắng hết sức mình để viết ra một cái gì đó để dành cho bà cho dù bà sẽ không bao giờ đọc được, bởi xét trên một phương diện nào đó, viết  có lẽ là cách duy nhất tôi biết để thể hiện tình cảm của mình.

Để bắt đầu, tôi phải nói rằng mẹ tôi là một người phụ nữ mạnh mẽ và quyết đoán, nếu nghĩ về một hình mẫu phương Tây nào để so sánh, tôi thường liên tưởng nét tính cách của mẹ mình có phần nào đó hao hao cố thủ tướng nước Anh - Margaret Thatcher; tất nhiên là chỉ hao hao phần nào đó theo quan điểm của tôi. Có thể một số người quen biết tôi ngoài đời sẽ cho rằng bởi ba tôi qua đời sớm và một mình bà phải nuôi hai đứa con nên mẹ tôi bắt buộc phải trở thành một người phụ nữ mạnh mẽ và độc lập. Điều đó hoàn toàn không đúng. Qua những gì tôi được nghe kể lại từ mẹ và từ những người cậu, mợ trong gia đình, ngay từ nhỏ mẹ của tôi đã là một cô bé có cá tính. Từ năm lên 4 tuổi bà đã phải lãnh trách nhiệm trông nom cậu út trong nhà ngoại của tôi, năm 6 tuổi bà phải ra Huế để trông nom cho anh họ tôi để dì tôi lúc đó là vợ của một đại tá của Việt Nam Cộng Hòa. Ở ngoài Huế, không có ai chăm lo, đã có lúc bà sốt rất cao và nằm trên chiếc xích đu trong vườn nhà, cậu tôi từ Sài Gòn vào chơi thấy vậy thì vô cùng bực mình và bế thẳng bà trở về Đà Nẵng. Bà đã phải sống tự lập ngay từ khi còn nhỏ bới lúc đó gia đình ngoại tôi nghèo. 

Cách mạng về, ông ngoại tôi trắng tay cho dù trước đây cũng không có nhiều của ăn của để gì, bởi tiền bạc và vàng gởi trong ngân hàng đã mất sạch và không còn chút giá trị dưới chế độ  mới.  Bởi nghèo và vốn tính nghiêm khắc thường thấy của người Huế, ông ngoại tôi trở nên xa cách và hằn học với con cái, đặc biệt là với những người con gái. Năm 11 tuổi mẹ tôi đã phải đi phụ bán nước mía cùng dì tôi. Năm 12 tuổi ông ngoại không cho bà đến trường để ở nhà phụ giúp gia đình. Cả cuộc đời bà, có lẽ chỉ được 3 năm chính thức ngồi ghế nhà trường. Năm 13 tuổi, mùa hè bà tự đẩy xe nước mía ra đầu xóm để bán, các khoản thời gian khác thì phụ bà ngoại buôn bán ngoài biển Thanh Bình, một cái vịnh của thành phố Đà Nẵng. Đây cũng là khoản thời gian mà bà gặp ba tôi lần đầu tiên, tuy nhiên cuộc chạm trán này lại không để lại ấn tượng tốt đẹp gì trong tâm trí bà. Ba tôi vốn là bạn của cậu tôi, hai người thường xuyên cãi vã nhau vì những lý do trẻ con vặt vãnh, một hôm vì bực mình cậu tôi mà ba tôi đã cầm một cục đá ném bể tủ kính bán thuốc lá của mẹ tôi. Tối hôm đó, mẹ tôi đã bị ông ngoại cho ăn một trận đòn nhừ tử vì đã không giữ gìn tủ thuốc. Tất nhiên bà rất là ức và không tiết lời tổng xỉ vả ba tôi, và bà thề rằng từ đó về sau sẽ không bao giờ nói một lời với "thằng khốn" đó. Vậy mà năm bà 25 tuổi, bà đã lấy người bà từng gọi là thằng khốn đó làm chồng, duyên nợ cuộc đời quả thật thú vị, nhưng đó lại là một câu chuyện khác mà tôi hy vọng có thể chia sẽ với mọi người sau này. 

Có thể nói từ năm 11 tuổi đến năm 15 tuổi mẹ tôi đã phải làm khá nhiều công việc buôn bán lặt vặt khác nhau để trợ giúp gia đình, bên cạnh đó bà còn phải làm tất cả các công việc trong nhà. Có những đêm đã hơn 11 giờ tối, bà vẫn phải thức chờ ông ngoại đi đạp xích lô về để dọn cơm và sau đó rửa chén bát, nhiều lúc bà ngồi chờ với cái bụng đói và sau đó thèm thuồng nhìn cậu út ăn chiếc bánh mỳ nóng hổi ông ngoại tôi mang về (lúc đó ông ngoại chỉ cưng nhất có hai người trong đám con cái 10 đứa của mình là cậu út và một người dì bị bệnh tim bẩm sinh của tôi). Sự thèm thuồng, sự cơ cực và tủi thân đó đã để lại trong đầu mẹ tôi một ấn tượng sâu sắc mà sau này bà nói rằng, bà sẽ cố gắng làm việc và cho dù bà có đói thế nào cũng sẽ không bao giờ để con bà phải thèm thuồng bất cứ cái gì, lúc đó tôi thật sự không hiểu lắm những gì bà nói, nhưng sau ba năm đi làm, tôi có thể hiểu được tình cảm sâu sắc và tâm tư của bà khi nói ra câu nói đó. Năm 16 tuổi, vì muốn sống một cuộc sống tự do và cũng muốn được giúp đỡ gia đình mình nhiều hơn, mẹ tôi đã xin ông ngoại vào làm trong một lò vôi ở Hội An. 

Trong lò vôi tại Hội An, mẹ tôi là người con gái nhỏ tuổi nhất tại đó. Cuộc sống tại lò vôi trong giai đoạn này vô cùng cực khổ, cũng như bao nhiêu người phụ nữ khác, bà phải làm tất cả các công việc bưng bê vôi sống như bất kỳ người đàn ông nào, có những lúc vôi làm bỏng rát cả hai vai của bà, nhưng điều đó cũng không hề khiến bà dừng lại. Bà làm lụng và tiết tiết kiệm để dành tiền gởi về nhà sau khi đã trang trải một ít chi phí cá nhân. Thời gian đó mẹ tôi vô cùng gầy gò và mảnh khảnh bới đói ăn (chế độ tem phiếu) và làm việc cực nhọc, nhưng bà luôn nói rằng đó là khoản thời gian bà cảm thấy hạnh phúc vì bà được sống một khoảng thời gian của niềm vui tuổi trẻ, được sống với bạn bè. Bà ở lại Hội An một năm thì ông ngoại gọi về, sau khi về Đà Nẵng, bà đi học bổ túc trong hai năm và rồi xin học trường đào tạo mầm non, rồi xin vào làm cấp dưỡng cho nhà trẻ Tiên Sa, cũng là nơi bà gắn bó cả cuộc đời của mình cho đến tận bây giờ. 

Để xin vào vị trí cấp dưỡng tại nhà trẻ Tiên Sa, bà đã phải chạy 5 phân vàng cho mẹ của một người mà mẹ gọi là người yêu cũ. Lúc đó nhà trẻ thông báo tuyển cấp dưỡng mà không phải tốn bất kỳ chi phí nào, nhưng vì không biết thông tin và bị mẹ của người yêu cũ lừa nên mẹ tôi phải chạy chọt mượn tiền để xin vào làm. Sau này biết được thông tin đó mà bà đã chia tay ông người yêu cũ đó, tôi thì cho rằng đây quả là ý trời. Lúc đó bà có chơi một chân hụi trong xóm và sau đó thì bị họ quỵt tiền hụi. Mẹ tôi đã rất tức giận và đến tận nhà người quỵt tiền để đòi, khi họ nói không có tiền, bà đã lao vào nhà lấy chiếu và mùng để cầm cố. Khi kể lại điều này với tôi bà đã cười không ngớt mà nói rằng không hiểu bà lấy đâu ra sức mạnh để làm điều đó, điều mà trước đây bà không bao giờ nghĩ tới. Sau đó, anh đội trưởng công an phường, người có quen biết với mẹ tôi đã đến và khuyên mẹ trả lại chiếu và mùng cho gia đình kia vì như vậy là phạm pháp, bà đành phải trả lại mọi thứ trong ấm ức và nước mắt đầm đìa. 

Trong khi học tại trường đào tạo cô nuôi dạy trẻ lúc bấy giờ, mẹ tôi thuộc vào top 3 của trường, cho dù bà chỉ được đào tạo chính quy có 3 năm. Bà đã phải dấu điều này khi xin vào trường đào tạo cô nuôi dạy trẻ vì bà cho rằng không gì xấu hổ bằng việc không có kiến thức và không được giáo dục. Thành thích học tập của bà trong khóa đó rất cao và bà được chọn để báo cáo điển hình cuối khóa. Vào lúc đó, có một cô, hình như là tên Tâm, vì ghen tức với thành thích của mẹ tôi nên đã đặt điều nói xấu bà với mọi người bà. Khi nghe người khác kể lại, bà đã hẹn gặp cô Tâm đó để nói rõ mọi chuyện, sau một hồi cãi nhau và cô Tâm đó có một vài lời xúc phạm đến mẹ tôi, bà đã không ngại ngừng vung tay tát cô ta một bạt tai. Mọi người chứng kiến đều rất là sốc bởi mẹ tôi vốn nổi tiếng hiền lành, nết na và sống biết điều ở trong trường. Sau sự kiện cái bạt tai đó, mẹ tôi đã không được báo cáo điển hình cuối khóa nữa. Mẹ nói với tôi rằng bà đã không hối tiếc khi làm như vậy, bà cho rằng cho dù hiền lành đến thế nào, phẩm giá của một người là điều tối quan trọng, khi phẩm giá bị xúc phạm và chúng ta đã dùng cách hòa bình nhất để giải quyết mà không được gì thì chỉ còn cách sử dụng bạo lực mà thôi. Tất nhiên là bà cấm tôi đánh người khác. Nhiều khi tôi thấy các bật phụ huynh thật là mâu thuẫn. 

Sau khi làm ở trường mầm non Tiên Sa, đến năm 25 tuổi mẹ tôi cưới ba tôi và một năm sau đó tôi chào đời. Cuộc sống lúc đó vô cùng khó khăn và tất nhiên nhà nào cũng đói. Ba tôi lại có tham vọng ra làm riêng nên đã bỏ việc thợ máy mà ra mở cửa hàng cơ khí riêng. Mẹ tôi đã phải làm hai ba công việc một lúc, buổi sáng thì nấu cháo để bán, tối lại sau khi hoàn thành công việc tại trường thi làm sữa chua để bán và tới 8h tối thì ra phụ bà nội tôi bán trứng vịt lộn trước ga Đà Nẵng. Làm nhiều như vậy nhưng nhà tôi lúc nào cũng không đủ ăn bởi phải trả thêm chi phí thuê ki-ốt làm cửa hàng cho ba tôi, lại gặp điều kiện kinh tế khó khăn nên ba tôi không làm ăn ra. Lúc đó ông lâm vào cảnh thất chí và uống rượu suốt ngày, sau khi uống rượu thì lại đi đánh bài để quên đi hiện thực tàn khốc và cũng cố gắng tìm một vận may nào đó. Một hôm, mẹ tôi vừa trông tôi vừa nấu nước sôi để làm sữa chua, bà bô tình trượt chân trên một vũng nước và làm bỏng cả một bên chân vì nước sôi đổ vào người. Trong suốt thời gian bà bị thương, bà vẫn tìm cách để ngăn ba tôi không đi đánh bạc. Hằng đêm, bà nghe phong phanh thông tin chỗ nào ba tôi đến đánh bạc, bà đều tìm đến con đường có tụ điểm ấy, nhìn  vào từng nhà để kiếm. Một ngày, trên đường Nguyễn Hoàng, tình cờ phát hiện ra chiếc xe đạp của ba tôi trước một căn nhà. Bà đòi vào gặp ba tôi nhưng người giữ cửa không cho, bà ở ngoài kêu gào tên ba tôi và đòi ông ra ngoài cho bằng được, một lúc sau ba tôi bị đẩy ra ngoài. Ông đuổi mẹ tôi về nhưng bà nhất quyết chỉ ra về khi ông cùng về. Bà khuyên ngăn ba tôi hết lời, có lẽ vì thấy giáng vẻ tôi nghiệp với cái chân phỏng của bà, mà ba tôi đã thú nhận là đã thua khá nhiều tiền, ước tình chừng 1 hay 2 chỉ vàng gì đấy và ông muốn gỡ lại những gì đã mất. Mẹ tôi đã lột 5 phân vàng cuối cùng của gia đình và đưa cho ba tôi, bà nói rằng ông có thể đánh hết hôm nay và nếu ông thua hết 5 chỉ vàng này thì kể từ nay về sau ông tuyệt đối không được đụng đến bài bạt nữa, nếu không bà sẽ bồng tôi và bỏ nhà ra đi. Tất nhiên là ba tôi thua sạch. Nhưng điều đó không ngăn ông tiếp tục dấn thân vào con đường cờ bạc. Vậy là mẹ tôi đã bồng tôi và bỏ về ngoại. Ba tôi về nhà không thấy vợ con đâu thì phát hoảng, ông chạy xuống ngoại nhưng cũng không thấy mẹ tôi, ông sợ vợ mình làm bậy nên chạy thẳng ra biển thì quả nhiên thấy bà đang bế tôi đứng ngoài đấy, mặt ba tôi theo lời mẹ tôi kể là tái mét không còn giọt máu vì nghĩ rằng mẹ tôi định tự vẫn, khi kể lại cho tôi thì bà ôm bụng cười vì bà nói rằng thật ra lúc đấy bà chỉ đứng đó và làm ra vẻ như vậy để hù ba tôi mà thôi; nghe như vậy tôi phải nói rằng phụ nữ quả thật không hề đơn giản. Ba tôi đã phải lạy lục và thề sống thề chết sẽ không bao giờ đụng đến bài bạc nữa thì mẹ tôi mới chịu theo ông về nhà, và quả thật kể từ đó cho đến lúc ông qua đời, không bao giờ ông con đụng đến một con bài nào cả. 

Năm tôi lên 6 hoặc 7 tuổi, cuộc sống của gia đình có phần khắm khá hơn khi ba tôi bắt đầu lằm ăn nên ra. Lúc này ông muốn mẹ tôi bỏ nghề cô nuôi dạy trẻ để ở nhà chăm sóc gia đình hoặc ra buôn bán ngoài vì ông cho rằng đồng lương kiếm từ nghề nuôi dạy trẻ quá ít trong khi mẹ tôi phải làm việc quá nhiều. Mẹ tôi đã kiên quyết phản đối vì bà muốn giữ cho mình một cái nghề và muốn mình được tự chủ hơn trong vấn đề kinh tế. Bà nói với tôi rằng bà không muốn trở thành một người phụ nữ phụ thuộc vào chồng và suốt ngày chỉ biết có gia đình và bếp núc. Bà tiếp tục tham gia lớp học lấy bằng 12+1 và 12+2 trong hai năm liền để trở thành giáo viên chính được đứng lớp. Mẹ tôi là giáo viên đầu tiên thuộc thế hệ của bà tại trường mầm non Tiên Sa có bằng 12+2. Năm tôi lên 9 tuổi cũng, mẹ tôi mang thai em gái tôi và cũng là lúc ba tôi qua đời vì bệnh nhồi máu cơ tim. Gia sản ba tôi để lại chỉ vài chục triệu sau khi trừ đi các khoản nợ thanh toán cho công nhân làm công trình. Tất nhiên tôi nghĩ rằng mẹ tôi tuyệt vọng vào thời điểm đó. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong ký ức tuổi thơ của tôi có hiện diện một hình ảnh nào của một người phụ nữ tuyệt vọng, có lẽ mẹ đã không cho tôi thấy điều đó. Bà vẫn lặng lẽ lo lắng chu toàn đám tang của ba trong khi chỉ còn 2,3 tháng nữa là em tôi chào đời. Sau khi hạ sinh em tôi, 2 tháng sau bà đã quay trở lại trường làm việc và làm thêm để kiếm tiền. Trong khoảng thời gian em tôi một tuổi, bà làm 3 công việc cùng một lúc, sáng bán căng tin tại một trường tiểu học, cả ngày làm giáo viên dạy trẻ và tối thì đi ghi sổ công trình đổ đất cho cậu tôi. Tất cả những gì bà làm, cốt để nuôi sống anh em chúng tôi và sửa lại căn nhà của gia đình tôi bên quận ba để 3 mẹ con có thể quay về nhà với một không khí ấm cúng hơn. Trong khoản thời gian này, bà cũng tiếp tục nộp đơn đi học đại học để lấy bằng đại học tâm lý mầm non. Bà cũng là giáo viên đầu tiên trong trường lấy được bằng đại học này. 

Mẹ tôi là một người đa cảm và lãng mạn. Đối với bà, âm nhạc, thơ ca là những thứ có thể làm bà xúc động. Nhưng đối với chuyện tình cảm, bà cũng rất là dứt khoát. Bà yêu với một lý trí vững vàng và bà biết đâu là thời điểm cần phải dừng lại. Trong tâm trí bà, con cái là điều quan trọng nhất, tất cả những thứ khác đều phải đứng sau. Có một dạo bà yêu một người đàn ông có gia cảnh tốt, phù hợp với mẹ tôi rất nhiều nhưng ông ta muốn chỉ bà và em gái nhỏ của tôi sống cùng ông, còn tôi lúc này đã học lớp 9 có thể tự lo và sống tự lập ở nhà của mình, hằng tuần bà có thể về thăm tôi thường xuyên. Tất nhiên là mẹ tôi đã không đồng ý và chia tay với người đàn ông đó mặc dù tôi cho rằng bà vẫn còn có tình cảm rất nhiều với ông ta. Chỉ duy nhất một lần tôi thấy bà mù quáng vì yêu, điều đó cũng gây cho tôi một sự khổ tâm mà mãi về sau có lẽ không bao giờ tôi có thể quên được. Tôi chỉ mong ước mẹ của mình có một cuộc sống hạnh phúc bên cạnh người mà bà yêu thương, nhưng dường như điều đó là không thể tại thời điểm đó. Sự dằn vặt và cả mâu thuẫn, tất cả đều đi đến một hồi kết mà người bước ra khỏi mớ lộn xộn tình cảm ấy, vẫn luôn là mẹ tôi. Bà sẵn sàng bỏ lại hạnh phúc cá nhân của mình đằng sau để gia đình tôi có thể sống yên ổn. Điều đó làm tôi vừa nể phục bà, vừa không tán đồng với bà, nhưng có lẽ tôi phải luôn tôn trọng những gì mà bà đã làm. Suy cho cùng, tất cả những điều đó chỉ nhằm mang lại một cuộc sống tốt đẹp cho hai anh em tôi mà thôi. 

3. 
Người phụ nữ đã sinh ra và nuôi nấng tôi thành người cũng là người đã dạy cho tôi tất cả những đức tính tốt đẹp của một con người tốt. Bà nghiêm khắc với tôi nhưng cũng vô cùng dịu dàng. Bà dạy tôi phải sống như một con người và phải biết tha thứ với lỗi lầm của người khác, điều quan trọng và tốt đẹp nhất của một con người là sự khoan dung, thứ mà có lẽ đến giờ tôi cũng không hiểu rõ mấy cho dù có được mẹ dạy nhiều như thế nào. Bà dạy tôi về sự cần mẫn và lòng quyết tâm để đạt được một điều gì đó; tôi luôn tin rằng nếu bà được sinh ra trong một gia đình có hoàn cảnh kinh tế khá giả hơn và được học hành tử tế, chắc hẳn bà sẽ làm được một điều gì đó lớn lao và thành công. Tôi học được rất nhiều thứ từ người phụ nữ tuyệt vời này, và điều quan trong khiến tôi luôn tự hào về bà là bởi bà luôn tôn trọng những gì tôi làm, bà không phải đối cho dù bà không thích một vài hành động hay ý tưởng mà tôi có. Trong gia đình của tôi, mọi thứ phải bắt đầu bằng sự trao đổi, thảo luận và đi đến một sự đồng thuận chung và chính bà là người tạo ra được một tiền đề tuyệt vời ấy. 

Tất nhiên mẹ tôi cũng có những rắc rối và tật xấu của bất kỳ người phụ nữ nào khác, và đôi khi điều đó cũng khiến tôi cảm thấy bức bối và khó chịu. Nhưng điều đó càng làm tôi ngưỡng mộ bà nhiều hơn nữa bởi bà là một người phụ nữ không hoàn hảo. 

Có thể sau này, khi nhìn lại, ký ức của tôi sẽ chỉ còn là những vệt màu loang không rõ nét, nhưng chắc chắn một điều, trong những vệt màu ấy, ký ức và hình ảnh về mẹ, luôn là những gì sống động và đẹp đẽ nhất, bởi đó là mẹ của tôi. 

8.5.13

Chó chết người chết


Tôi nhớ có một thời điểm tin tức về những vụ người dân trong một làng hoặc xã cùng nhau đánh chết những kẻ bắt trộm chó xuất hiện khá nhiều trên các trang báo điện tử, gần đây tôi cũng đọc được một vài tin như vậy. Có chỗ thì kẻ đập chó bị đánh đến chết hoặc trọng thương nhưng không ai gọi cấp cứu và để nằm đó đến chết, có chỗ thì trói kẻ phạm tội lại và sử dụng một số biện pháp sỉ nhục đối tượng công khai về mặt thể xác và tinh thần để răn đe. Một lần nữa, những hành động này của những con người mà tôi vẫn gọi là đồng loại kia làm tôi cảm thấy rùng mình. Nó làm tôi tự hỏi bản thân mình, "chúng ta có quyền đối xử với người khác như vậy sao?"

Ở đây tôi không nói về quyết định tin tưởng vào một điều gì đó của những người ủng hộ hay phản đối những hành động mà tôi cho là tàn nhẫn ở trên, có người quyết liệt phản đối nhưng cũng không ít người cho rằng những kẻ trộm chó đáng bị đối xử như vậy. Có khái niệm đúng hay sai không trong những gì tôi đang bàn đến hay không? Tôi nghĩ là không, không có một ranh giới nào cả, nó tùy thuộc hoàn toàn vào sự lựa chọn tin tưởng của mỗi cá nhân. Điều này làm tôi nhớ lại có lần tôi đã chia sẻ ý kiến của mình trên Facebook cá nhân với một sự phẫn nộ rất lớn tại thời điểm đó, đối với tôi việc đánh đến chết một con người lúc nào cũng mang rợ và tàn ác cả. Tôi nghĩ rằng tất cả mọi người sẽ ủng hộ tôi, nhưng thật ra không phải như vậy, có hơn 30% ý kiến cho rằng những kẻ trộm chó và đập chó - con vật trung thành của loài người, "người bạn" được nuôi nấng và yêu thương như thành viên trong gia đình, thứ tài sản vô giá và có ý nghĩa, đáng phải bị như vậy và đó là hình phạt thích đáng dành cho những kẻ mà họ cho là "thanh niên trai tráng, thiếu gì việc để làm lại đi đánh một con chó mà khả năng tự vệ yếu hơn con người". Đối với họ, việc mất đi một con vật cưng, nguồn an ủi và động viên về mặt tinh thần, giống hệt như mất đi một người thân, chính vì vậy họ đòi hỏi công lý cần phải được thực hiện. Họ có sai hay không? Trước đây, khi tôi 20 tuổi, tôi nghĩ đây là một suy nghĩ khủng khiếp và nó làm tôi run sợ, nhưng bây giờ tôi có thể hiểu và đồng ý rằng đó là một quan điểm của họ và tôi tôn trọng điều đó.

Về cá nhân mình tôi không phải là người sở hữu hay nuôi nấng bất kỳ một con vật nuôi nào từ trước đến nay, nhưng tôi nghĩ có lẽ tôi hiểu được cảm giác khi mất đi một ai đó thân thuộc trong gia đình. Trong cương vị của tôi, nếu một ai mà tôi yêu thương mất đi do tai nạn hoặc do bị ai đó gây ra, tất nhiên tại thời điểm đó tôi sẽ căm hận người khiến bi kịch đó diễn ra, chắc chắn trong trí óc tôi sẽ bùng lên cảm giác muốn được trả thù ngay lập tức. Nhưng rồi sau đó thì sao? Tôi tự hỏi chính mình. Liệu nếu có cơ hội đối mặt với kẻ đó, tôi có làm vậy không? Tôi nghĩ là không bởi tôi tin vào luật nhân quả, vai trò của công lý và pháp luật. Tôi luôn quan niệm rằng, những kẻ gây ra tội ác cần phải bị trừng phạt bởi công lý và luật pháp, chứ không phải là luật rừng. Nếu tôi có một chú chó mà tôi yêu quý, nếu chú chó ấy bị đánh chết bởi một kẻ trộm chó và tôi có cơ hội đối diện với người thanh niên kia. Tôi sẽ làm gì? Tôi biết chắc chắn một điều là tôi muốn người đứng trước mặt tôi phải cảm nhận được nỗi đau và sự mất mát của mình. Tôi làm điều đó thế nào nếu không phải bằng bạo lực? Có lẽ tôi sẽ nhìn sâu vào mắt của kẻ đánh chó ấy và khóc, cứ như vậy, nước mắt chảy ra khi tôi nhìn hắn, chỉ đơn giản như vậy. Tôi muốn hắn thấy được nỗi mất mát và đau đớn của mình và tôi muốn hắn phải cảm nhận điều đó bằng chính trái tim của hắn và điều đó, có lẽ sẽ khiến hắn phải nhớ cảm giác đau đớn ấy thật lâu, và tự bản thân hắn sẽ phải đặt câu hỏi cho chính lương tâm của mình. Nước mắt, không có gì là xấu hay yếu đuối, đó là hình thức để thể hiện nỗi đau và sự thống khổ, tôi sẽ không ngại ngần thể hiện điều đó ra bên ngoài để cho người khác có thể thấy được tôi đã đau đớn như thế nào bởi những hành động mà họ gây ra. Tôi nghĩ, đó cũng là một cách để cảm hóa những hành động tàn ác. Chúng ta thường quên mất rằng, những người gây ra lỗi lầm cũng là con người có lương tri và lương tri đó cần được đánh thức, chứ không nên gieo vào đó sự đau đớn và hận thù.

Những sự việc như thế này làm tôi nhớ lại những gì đã đọc trong cuốn du ký Gỗ Mun của nhà văn người Ba Lan Ryszard Kapuscinski về con người và cộng đồng ở Châu Phi trong từ những năm 60 đến 90. Ở các quốc gia Phi Châu non trẻ vừa dành được độc lập, nghèo đói, bệnh tật và trộm cắp là nỗi ám ảnh tại đây. Những người nghèo ở Châu Phi muốn đi làm cần phải có một cái gì đó để làm kế sinh nhai như một cái thau, một bộ áo quần tươm tất; đối với họ đó là những thứ có giá trị nhất, là cần câu cơm quan trọng nhất và quý giá nhất, quý còn hơn cả sinh mạng. Bị trộm hoặc cướp đồng nghĩa với trắng tay, tuyệt vọng và đói đến chết. Có một đoạn trích trong tác phẩm làm tôi liên tưởng đến cách hành xử với những kẻ trộm chó mình đang nói đến trong entry này. Đoạn trích đó như sau:
Ở trường hợp chiếc xe Toyota của chúng tôi, chuyện đó kéo dài bốn tiếng đồng hồ và khi chúng tôi đã sắp lên đường thì người tài xế tên là Traoré - một anh nông dân trẻ lực lưỡng, cường tráng - khẳng định rằng có người đã ăn cắp cái bọc anh để trên ghế gói chiếc váy bên trong. Những trò trộm cắp như thế này là chuyện thường ngày trên khắp thế giới, nhưng tôi cũng không hiểu tại sao Traoré nổi cơn thịnh nộ, điên lên, phát rồ, khiến mọi người trong xe co rúm lại vì sợ anh ta sẽ xé xác mình - những hành khách vô tội! Một lần nữa tôi lại tình cờ nhận thấy ở Châu Phi, phản ứng đối với việc trộm cắp có một nét gì đó không tỉnh táo, nằm ở ranh giới của sự điên rồ, mặc dù ở đây trộm cắp đầy rẫy. Bởi vì ăn cắp của một kẻ nghèo xác, thường chỉ có một cái bát hay một chiếc áo tả tơi, thực sự là một việc phi nhân tính, cho nên phản ứng của anh ta đối với trộm cắp có vẻ như cũng phi nhân tính. Đám đông đánh đập tên kẻ cắp trong chợ, trên quảng đường, trên phố, có thể giết anh ta tại chỗ. Do đó, thật nghịch lý, ở đây nhiệm vụ của cảnh sát dường như không phải là bắt kẻ trộm cắp, mà là bảo vệ và cứu hắn ta.
Như vậy đấy, ở một xã hội tăm tối con người đối xử với nhau như vậy đã đành, khi chúng ta phát triển hơn một chút, mọi chuyện trong một vài trường hợp cụ thể cũng không khác nhau là mấy. Bạo lực xuất phát từ sự tăm tối và đói nghèo. Bạo lực liệu có phải là câu trả lời? Đánh chết kẻ trộm chó này thì có làm kẻ khác run tay mà không làm nữa khi nhu cầu ăn thịt chó ở Việt Nam không hề giảm đi hay không? Và có một điều tôi muốn nhấn mạnh, gây ra cái chết của những kẻ đập chó là cả một đám đông - một cộng đồng, chính điều đó không làm một cá nhân nào có mặc cảm tội lỗi. Cá nhân cho rằng đó không phải là lỗi của họ mà là lỗi của một đám đông. Về lâu về dài, điều đó nảy sinh quan điểm rằng họ có quyền trừng phạt tội lỗi bằng bạo lưc, nó có thể trở thành một hành động mang tính bộc phát khi đối mặt với một vấn đề mang tính chất sai phạm trong tâm trí của cá nhân đó. Những người có cùng suy nghĩ bạo lực này, liên kết lại với nhau sẽ trở thành một nhóm người với chủ trương sử dụng bạo lực để hành xử và giải quyết bất kỳ một hành động sai trái (theo quan điểm của họ). Điều đó có tốt không? Lịch sử đã chứng minh, bạo lực thường đi liền với máu và nước mắt, nó có thể có tính đúng sai nhưng đó chưa bao giờ là một điều tốt lành với thế giới này cả.

Và có một câu hỏi quan trọng hơn mà tôi thường nghĩ đến, chúng ta sẽ dạy con cái của mình nhân từ với người khác như thế nào khi những người lớn ngoài kia vẫn hành xử một cách bạo lực như vậy? Đây không phải là những ví dụ cho trẻ con thấy rằng chúng hoàn toàn có thể đánh chết người khác nếu họ phạm phải một sai lầm nào đấy và đây là bài học cho cái gọi là "máu phải trả bằng máu" ư? Tôi cũng không lấy làm ngạc nhiên lắm khi ngày nay các trang báo mạng liên tục đưa những tin tức về tội phạm vị thành niên với những hành động giết người kinh khủng, một phần nào đó, chính người lớn phải chịu trách nhiệm cho những đứa trẻ ấy, bởi họ đã dạy chúng rằng bạo lực là câu trả lời cho các câu hỏi.

Tôi vẫn tin vào thuyết nhân quả và sự tha thứ, nếu có thể, hãy tha thứ và mở cho người khác một cơ hội, bởi bất cứ người nào cũng có cho mình một lương tri. Đó là điều mà tôi tin tưởng.

3.5.13

Bấm like liệu có cứu người!?


Tôi thường có một mối quan hệ yêu ghét không rõ ràng với những bức ảnh, status mà một cá nhân hay tổ chức đăng tải để vận động tài trợ, quyên góp cho một hoạt động hay chiến dịch từ thiện nào đó hoặc cho những chiến dịch nhằm nâng cao nhận thức về một vấn nạn xã hội.

Yêu là bởi:

  • Những bức ảnh, status có lượng likes lớn sẽ nâng cao tỷ lệ nhiều người khác trên mạng có thể biết về hoạt động hoặc các chiến dịch mang mục đích và ý nghĩa nhân văn to lớn kia nhờ cơ chế hoạt động của Facebook cho phép bạn bè có thể thấy được những bức ảnh hoặc đường dẫn mà chúng ta bấm like. Tỷ lệ nhận biết cao thường đồng nghĩa với cơ hội gia tăng số lượng người tham gia vào những sự kiện tình nguyện.


  • Bấm like, một phần nào đó biểu hiện ý muốn được là một phần của những hoạt động mang tính cộng đồng kia, nó khơi dậy trong ta một ý niệm về hành động tốt và ý nghĩ muốn giúp đỡ người khác. Những hành động thường xuất phát từ những ý niệm, một ý niệm tốt luôn làm gia tăng khả năng làm việc có ích của một người. Đôi lúc những ý nghĩ đó sẽ nằm mãi trong đầu chúng ta và thôi thúc chúng ta phải hành động.


Ghét là bởi:

  • Có một khả năng khá lớn là con người chúng ta thường bị tính bầy đàn chi phối, thấy người khác like thì cũng bấm like cho dù không thật sự đọc qua nội dung mà người khác muốn chia sẻ. Điều này thể hiện rõ nhất đối với những hình ảnh và status có lượng likes cao ngất ngưởng nhưng số lượng tương (comment, chia sẻ) tác lại khá thấp.
  • Hành động bấm like, xét về mặt tâm lý, có thể nói rằng nó mang lại cảm giác làm được một điều gì đó có ích cho những đối tượng, sự kiện cần nhận được sự chú ý của công chúng và cộng đồng mạng xã hội. Nhưng thật chất không phải là vậy, việc bấm like mang nặng về mặt ý niệm đối với việc cần làm một hành động tốt, chứ bản thân nó chưa phải là một hành động mà đối tượng chính của các chiến dịch kia thật sự cần. Những ý nghĩ như vậy thường chỉ thoả mãn tâm trí của người bấm like tại thời điểm đó mà thôi. Nó còn mang lại sự ngộ nhận khi chúng ta cho rằng nhiều người like thì sẽ có nhiều người giúp đỡ và quyên góp, đó là một ngộ nhận hết sức lớn lao. Ý niệm tốt là cần thiết, nhưng đôi lúc lại không đủ mạnh để cho ra đời một sự ủng hộ hay giúp đỡ người khác.


Một ví dụ rõ ràng hơn là tổ chức UNICEF Thụy Điển vừa thực hiện một chiến dịch truyền thông mới trên Youtube, mà ở đó họ nhấn mạnh vào việc có nhiều likes không hẳn mang lại lợi ích thiết thực cho những đối tượng cần được giúp đỡ như mong đợi, chi tiết có thể xem tại clip dưới đây.


Trong đoạn video nói trên, cậu bé tên Rahim nói với mọi người rằng câu rất lo lắng nếu mình bị ốm vì sẽ không có ai chăm sóc cho cậu em nhỏ của mình, nhưng giờ cậu đã không còn bận tâm nhiều đến vấn đề đó nữa bởi hiện tại trên UNCIEF Facebook Fanpage đã có 177,000 lượt likes và dự kiến đến mùa hè con số này sẽ là 200,000 lượt. Chúng ta có thể thấy được sự tương phản rõ ràng trên nét mặt của cậu bé nghèo khổ này. Kết thúc đoạn video, UNICEF nhấn mạnh rằng "Likes don't save lives. Money does." (tạm dịch: Likes không thể cứu mạng người nhưng tiền quyên góp thì có thể).

Từ đó có thể thấy, một ý nghĩ tốt vẫn là chưa đủ cho dù nó thật sự là một tiền đề quan trọng. Từ những ý nghĩ này cần có những hành động tốt thiệt thực, mà trong trường hợp cụ thể ở đây không hẳn chỉ gói gọn trong việc quyên góp tiền trực tiếp mà có thể chia sẽ thông tin đến những cá nhân hoặc tổ chức có khả năng quyên góp. Điều đó sẽ giúp ích cho những chiến dịch và cá nhân cần sự trợ giúp đó một cách thực tế và hiệu quả hơn nhiều.

Nói như vậy không có nghĩa tôi lên án hành động bấm like trên Facebook, bởi như tôi đã nói, tất cả đều bắt đầu từ một ý niệm tốt mà qua việc bấm nút like, chúng ta đã xây dựng cho mình một tiền đề tốt để bắt đầu cho một công việc nhân đạo. Lý tưởng nhất là những ý niệm nhân văn ấy được nhân lên rộng rãi để mọi người trong cộng đồng cùng ý thức về một việc tốt mình cần phải làm và từ đó có được những hành động cụ thể để giúp đỡ và quyên góp. Nói cho cùng, vật chất mới là thứ hữu hình chúng ta có thể trợ giúp những người có hoàn cảnh bất hạnh hơn; và tại thời điểm đó, vật chất là thứ cấp thiết mà họ đang cần. Động viên tinh thần cũng rất quan trọng, nhưng nó cần được đánh giá một cách công bằng và thứ yếu tùy thuộc vào tình hình của các chương trình, chiến dịch hoặc đối tượng.

Tóm lại, hành động là điều mà các tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận hoặc các tổ chức khác muốn hướng đến, tuy nhiên để biến ý nghĩ của người tham gia mạng xã hội thành hành động thì không thể chỉ trông chờ vào bản thân của các thành viên tham gia. Cần phải có những phương thức hoặc hình thức ủng hộ đơn giản bằng các công cụ dễ nhận biết và dễ sử dụng, ví dụ như chia nhỏ giá trị quyên góp và sử dụng các hình thức tiếp nhận trực tiếp và dể liên hệ, bởi bản thân con người vốn lười, chúng ta thường tìm đến những gì đơn giản và tiện lợi nhất để mà làm. Theo ý tôi, like hay không like, thật sự không quan trọng lắm, điều quan trọng là sự tương tác và những gì mà người tham gia sẽ đóng góp và hành động mới là cái đích cuối cùng, không chỉ của các tổ chức phi lợi nhuận mà còn của các doanh nghiệp. Và tóm lại điều tôi muốn tóm lại ở trên là mọi người ngoài bấm like, còn phải share, comment và hành động nữa nhé ^^. Bấm like không thôi thì không thể cứu người đâu!

PS: Trong entry này tôi chỉ lấy ví dụ về Facebook là đại diện cho Social Media (Mạng xã hội), Google+ hay Pinterest hoặc Tumblr đều như trên, chỉ khác là thay thế nút like bằng những nút khác.

2.5.13

Dành cho tháng tư


1. Tháng Tư, tháng của những tin tức không vui vẻ, những ý nghĩ nặng nhọc và cả sự bất an bởi những điều không phải của riêng mình. Tháng Tư cũng là tháng xuýt gặp phải tai nạn và có thể tệ hơn nữa là vào quan tài. Tất cả những sự kiện, tin tức và những điều tình cờ đều khiến mình suy nghĩ về cuộc sống hiện tại, về những người xung quanh và về một thái độ sống. Đối với cuộc sống lúc này, tôi chợt nhận ra, quý giá hơn tôi vẫn tưởng và nói về nó rất nhiều. Người xưa nói không sai, trải nghiệm làm nên một người đàn ông, nhưng cái giá để trả cho những trải nghiệm đó, đôi khi không dễ chịu cho lắm.

2. Tháng Tư, tháng giao mùa để chuẩn bị chào đón không khí nóng nực đến ngột thở của mùa hè. Tháng của nắng, của nóng và của những đêm mất ngủ. Tôi bắt đầu nghiện cái cảm giác ngồi một mình trong bóng tối, nhìn vào ánh đèn đỏ rực hắt ra từ gian thờ trước phòng ngủ, vào những khoảnh khắc ấy tôi cảm nhận rõ rệt sự bức bối của không khí và của cả những cảm xúc không rõ ràng. Những đêm tháng Tư, những đêm của cái nóng nhiệt đới cho dù hè vẫn thật sự chưa đến có thể khiến cho con người ta mê sảng. Tôi rõ ràng không biết mình đang đứng ở ranh giới nào, tỉnh táo hay mộng mị. Rất có thể mọi thứ chỉ là do tôi tưởng tượng ra, như một kẻ rối loạn tâm thần.

3. Tôi không muốn nghĩ nhiều về những mối quan hệ tôi đang có. Khoảng thời gian nay, mọi thứ cứ ở một mức độ lưng chừng,hờ hững, không có gì thật sự là gắn bó. Tôi cố gắng hướng tình cảm vào gia đình, càng nhiều càng tốt. Một lần nữa, tôi nhận ra rằng họ thật sự quan trọng với tôi đến nhường nào. Những thứ khác, có lẽ không thật sự làm tôi phải bận tâm quá nhiều. Tôi suy nghĩ về những sợi dây gắn kết trong cuộc sống hiện tại, tôi cảm nhận được sự mỏng manh của từng mối liên kết ấy, nhưng biết làm sao được, ai cũng có cuộc đời của mình để sống. Tôi trân trọng ý nghĩ ấy. Tôi cũng đau buồn và lo lắng khi nghe tin những người bạn của mình gặp chuyện không may trong gia đình, nhưng tôi tự hỏi mình thật sự có thể làm được gì ngoài cầu chúc họ may mắn và gởi lời động viên. Những mối quan hệ, thường phức tạp hơn những gì tôi có thể nghĩ đến, để nuôi dưỡng nhiều mối quan hệ cùng một lúc, thường làm tôi mệt mỏi.

4. Tôi bắt đầu lại thói quen chạy bộ của mình đã được gần 2 tháng. Tối nào trong tuần tôi cũng cố gắng chạy liên tục cho hết quãng đường 5km. Không nhiều nhưng có lẽ cũng không ít, đối với tôi. Khi chạy, tôi không suy nghĩ được gì nhiều và tôi thật sự thích thú cảm giác trống rỗng đó. Những dòng năng lượng, những cơn thở dốc đủ để khiến tôi chỉ tập trung vào một điều duy nhất, làm sao hoàn thành chặng đường đã được đặt ra mà không dừng lại dù chỉ một lúc. Những khoảng thời gian như vậy giúp tôi chỉ tồn tại trong thế giới của riêng mình, thế giới của những bước chạy và âm nhạc. Tôi không suy nghĩ về những vấn đề của mình hay của những người khác, tất cả chỉ còn lại tôi và một tôi duy nhất. Cái cảm giác độc tôn đó có chút gì đó vừa vô nghĩ, vừa cô độc nhưng cũng vừa hạnh phúc. Tôi hy vọng, mình đủ kiên trì để duy trì thói quen này, ít nhất là cho đến lúc tôi có thể rời khỏi thành phố này.

5. Tháng Tư, tháng tôi thấy vui vì đọc được hai quyển sách thật sự ý nghĩa và tuyệt vời. Hai quyển sách khiến tôi phải suy nghĩ, phải chất vấn bản thân. Tôi được tiếp xúc với một Trần Dần tinh tế, sắc gọn với những trang viết về con người đi lạc giữa những định kiến và ranh giới của một xã hội đang sang trang, trong "Những ngã tư và những cột đèn". Và cũng thật may mắn khi tôi được tiếp xúc với một Châu Phi của những thập kỷ trước, của những sự xung đột xã hội, sắc tộc và tôn giáo qua những trang du ký đặc sắc của Ryszard Kapuscinski trong "Gỗ mun". Tất cả đều gợi cho tôi những liên tưởng về con người và xã hội và cũng mở cho tôi một góc nhìn mới, có lẽ là đầy cảm thông hơn. Nó khiến tôi phải mìm cười với chính sự nhiệt tình đến nông nổi của nhưng năm tháng tuổi 20, khi cái nhìn của mình vẫn còn đầy định kiến và sẵn sàng đối chọi với những ai không đồng quan điểm. Đến lúc này, quả thật là một bước tiến dài khi tôi nhận ra rằng mọi người đều có quyền chọn cho mình một niềm tin, dù điều đó là đúng hay sai.

P.S: Chào tháng năm! Chào mùa hè đang vẫy gọi.

20.4.13

Thế giới tàn nhẫn


Bạn có thấy như vậy không?

Tất nhiên tôi không thuộc kiểu người có cái nhìn bi quan về cuộc sống, tôi suy nghĩ nhiều về những sự kiện xảy ra xung quanh mình, nhiều khi là quá nhiều. Tôi dễ xúc động đối với những tình cảnh khác nhau, đôi khi chẳng có gì bi kịch trong một sự kiện, một con người, một cuộc sống cũng khiến tôi bùi ngùi. Tuy vậy, tôi không nghĩ rằng cuộc sống này đen tối hay bế tắc. Nhưng, cuộc sống này thật sự là tàn nhẫn, đó là một sự thật.

Tôi đang tập cho mình thói quen chạy bộ mỗi tối, thật ra tôi đã có thói quen này từ năm cấp 3, nhưng sau này lại bỏ. Mỗi ngày tôi dành ra khoảng 45 phút để chạy 5 km không nghỉ. Tất nhiên với một người có thân hình quá khổ như tôi, hằng ngày việc chạy bộ như vậy lúc nào cũng mang lại cho tôi một cảm giác mệt nhọc cho dù tôi đã chạy hơn hai tháng nay và tôi đã quen với nhịp chạy như vậy. Nhưng lần nào cũng vậy, khi những bước chân của mình trải dài trên con đường biển cùng gió, những ánh nhìn và bóng tối, tôi luôn cảm thấy mình thật sự hạnh phúc, bởi trong những giây phút ấy, tôi không phải quan tâm đến bất kỳ điều gì hay bất kỳ ai. Tất cả chỉ có tôi và đường chạy. Tôi không suy nghĩ gì cả, tôi chỉ tập trung làm thế nào để hoàn thành 5 km đường chạy ấy mà không đứt quảng, đó thật sự là một cảm giác lạ lùng. Nói như vậy để thấy, chạy bộ mang lại cho con người một thứ khoái cảm, một cảm giác chỉ thuần hạnh phúc.

Có những lúc tôi chạy bộ trên đường, có một vài người qua đường nhìn tôi và hô "Cố lên!" thật to. Họ vừa nói, vừa cười, và điều đó khiến tôi cảm thấy vui, bởi nó giống như một lời động viên và tôi đã có cho mình những khán giả xem và cổ vũ cho mình. Nó thật sự giống như một cuộc trình diễn và mọi người đều vui. Chỉ một điều nhỏ như vậy thôi mà cũng mang lại một cảm giác phấn khởi thì hãy tưởng tượng nếu chúng ta có một đám đông, những người chạy bộ và khán giả, là những thành viên trong gia đình của người tham gia chạy bộ, ắt hẳn tại sự kiện đó, sẽ tỏa ra một luồng sáng của sự ấm áp, của hạnh phúc và của niềm vui. Trong tâm trí tôi khi viết những dòng này, tưởng tượng về một dòng người đầy những vận động viên không chuyên chạy bộ, và dõi theo họ là những người vợ, người mẹ, người con, với những tràn cỗ vũ, với sự chờ đợi và hy vọng, chỉ nghĩ về những hình ảnh giản dị ấy thôi cũng khiến tôi cảm thấy ấm áp.

Vậy mà, có những cá thể, nhẫn tâm giết chết đi niềm hạnh phúc hiếm hoi đó của một cuộc sống vốn dĩ bận rộn và lạnh lùng. Khi người ta quây quần lại với nhau để chia sẻ niềm hạnh phúc của gia đình, của cuộc thi và của những khao khát vượt lên chính mình thì họ bị bóp chết bởi sự tâm tối đơn lẻ. Giữa niềm vui đó, chỉ cách nhau vài phút đồng hồ là bi kịch, là máu, là nước mắt và là nỗi đau. Vâng, tôi đang nói đến thảm kịch đánh bom cuộc thi marathon tại Boston, Mỹ. Tôi đọc những bài báo viết về thảm kịch này, chứng kiến những con người bê bết máu, đọc về những nạn nhân trẻ tuổi, những đứa trẻ phải chết khi đứng chờ cha mình chạy đến đích, có cả những người mất cả gia đình mình. Thật sự là một thảm kịch. Tôi thật sự không thể hiểu, tại sao người ta có thể nhẫn tâm giết đi những niềm vui như vậy trong cuộc sống. Chắc chắn phải có một động cơ đằng sau hành động tàn nhẫn ấy, nhưng dù là gì, nó cũng đã giết đi một niềm vui thú nhỏ nhoi, không những trong giây phút này mà mãi mãi về sau. Giờ đây, bóng ma về vụ thảm sát sẽ còn đó, liệu sau này sẽ còn bao nhiêu người hào hứng tham gia vào sự kiện chạy bộ chỉ thuần hạnh phúc ấy với sự vô tư và đam mê? Đôi khi, đam mê vì vậy mà cũng bị giết chết.

Bi kịch tại Boston cũng giống như bi kịch của những vụ đánh bom chốn công cộng khác, nó cũng giống như những cuộc chiến tranh hay bất kỳ một sự kiện kinh hoàng nào có người phải chết vì hành động của một nhóm thiểu số. Đó là những bi kịch chúng ta vẫn phải đối mặt và chứng kiến từng ngày. Ta có thể làm được gì là câu hỏi mà tôi thường đặt ra sau khi đọc những tin tức liên quan đến những sự kiện đau buồn ầy. Câu trả lời thường không giống nhau, thường cũng không có một câu trả lời rõ ràng. Đôi khi tôi thậm chí cố gắng không nghĩ về những điều đó. Những có một điều chắc chắn mà tôi nghĩ về, đó là tôi sẽ cố gắng sống tốt hơn từng ngày. Sự đau buồn như một biểu hiện nhắc nhở chúng ta rằng, chúng ta cần trở thành những người tốt hơn và đem những điều tốt lành đến thế giới tàn nhẫn này. Tôi không tin vào những giáo điều lạc quan tếu, nhưng tôi tin nếu tôi đối xử với những người xunh quanh mình tốt hơn, thì một phần nào đó, tôi đang tác động đến cuộc sống của mình và của người khác theo một chiều hướng tốt đẹp hơn. Và đối với tôi, chỉ như vậy là đủ.

Thế giới này có tàn nhẫn không? Với tôi câu trả lời luôn là có. Vậy nó có khác gì khi chúng ta luôn cố gắng làm những việc tốt đẹp? Nó cũng sẽ chẳng khác gì so với hiện tại, nhưng ít ra những việc làm mà ta tin tưởng là tốt, sẽ thay đổi con người chúng ta, ít nhất đó là điều quan trọng và nó làm ta hạnh phúc.

P/S: Tôi vẫn tin vào tính nhân đạo của con người, đặc biệt là cách họ ứng xử thế nào sau thảm kịch, như những điều tốt đẹp mà công dân tại Boston đã làm. Trong một thoáng, tôi sợ phải nghĩ rằng nếu một ngày tại đất nước mình, một thảm kịch như thế này sẽ xảy ra, lúc đó con người ta sẽ phản ứng với nhau như thế nào? Ở thời điểm này tôi vẫn cố gắng thuyết phục mình tin vào một điều gì đó tốt đẹp, nhưng thật sự là tôi không biết chắc.

3.4.13

Sách đọc tháng 03

Tháng 03 vừa rồi tôi đọc không nhiều bằng tháng trước đó, một phần vì mấy chuyệt vặt làm tâm trạng không thoải mái lắm, phần vì lo chuẩn bị một số thứ. Tuy nhiên có một số quyển sách đã đọc trong tháng này khiến tôi khá là thích.

Trong tháng này tôi đọc được 6 quyển sách: 03 quyển là tản văn và 03 quyển là tiểu thuyết, xem ra cũng khá là cân bằng. 

1. Về tản văn:


Đây là lần đầu tiên tôi đọc một tác phẩm của bác Cao Huy Thuần. Tôi biết đến cuốn này thông qua một người o ruột - bà là một người thích đọc những thể loại như vầy. Những câu chuyện trong Chuyện trò mang đậm tư tưởng triết lý Phật giáo nhưng lại không hề phức tạp. Những câu chữ trong tác phẩm khiến tôi phải đọc đi đọc lại nhiều không phải vì khó đọc mà vì mỗi lần đọc tôi lại cảm nhận một cách rõ ràng hơn và hiểu sâu hơn, và chính vì vậy lại càng khiến tôi muốn quay trở lại đọc lại một lần nữa để tìm kiếm những tầng nghĩa khác. Sách dễ đọc và khá thú vị chứ không tẻ nhạt. Sau cuốn này, tôi sẽ tìm đọc cuốn Thấy Phật, nghe nói là cuốn hay nhất của Cao Huy Thuần. 


Tôi không có chủ định đọc quyển tản văn này của Đặng Nguyễn Đông Vy cho dù được nghe khá nhiều người nhắc về nó. Đọc được quyển này vì giữ hộ sách cho một người bạn và được mượn về sau một chuyến đi. Chỉ mất khoảng 2 tiếng để đọc xong cuốn Hãy tìm tôi giữa cánh đồng. Thành thật mà nói, văn phong của Đông Vy không thật sự quá xuất sắc trong thể loại tản văn như thế này, nhưng cảm xúc lại khá chân thật và cảm động, tôi nghĩ đó mới là điểm mấu chốt lôi cuốn đọc giả. Tôi vẫn thích phần tản văn hơn là truyện ngắn (sách gồm 2 phần: tuyển tập tản văn và tuyển tập truyện ngắn), vì mấy truyện ngắn của Đông Vy, có lẽ không còn phù hợp với tuổi của tôi nữa, đối với tuổi học trò hoặc thiếu niên, nó có lẽ sẽ thấy lôi cuốn hơn nhiều. 


Đây là quyển tôi thích nhất và cũng đã viết về nó. Quốc Bảo với tản văn lúc nào cũng khá thú vị, mà càng thú vị hơn khi chữ đi cùng với hình ảnh đẹp. Một quyển sách rất Sài Gòn. 

2. Về tiểu thuyết:


Chuyện ở nông trại là một trong hai tác phẩm nổi tiếng và xuất sắc nhất của George Orwell (tác phẩm còn lại là 1984 - nguồn cảm hứng để Haruki Murakami viết nên quyển sách dày cộm 1Q84 mà Nhã Nam phải dịch ra đến ba phần với ba cuốn cũng dày không kém). Sách viết về nông trại và những con vật được nhân cách hóa, nhưng nó lại hoàn toàn không phải là một tác phẩm văn học thiếu nhi. Ẩn sau những con thú là cái nền của chính trị, của chủ nghĩa cộng sản và chế độ độc tài. Có rất nhiều thứ hay ho mình có thể học được từ tác phẩm này. Mình sẽ viết về nó nhiều hơn nếu có dịp.


Nội dung của Bắt lửa không kịch tính bằng phần đầu - Đấu trường sinh tử nhưng lại khá hấp dẫn về cách phân tích tâm lý nhân vật và câu chuyện cũng khá logic hơn. Người đọc có thể cảm nhận được sự trưởng thành của Katniss và những suy nghĩ nội tâm tương đối phức tạp. Sách thuần về giải trí và cũng đáng để đọc cho đầu óc bớt căng thẳng. 


Đọc quyển Trời hôm ấy không có gì đặc biệt của Phan An, tôi cam đoan một điều là bạn sẽ cười từ đầu đến cuối. Đây là dạng sách tưng tửng, hài nhảm đặc trưng; tất nhiên đọng lại gì trong đầu của mỗi người là chuyện khác, bởi vậy mới có chuyện tác giả đăng trên Facebook của mình mấy cái một bức ảnh được chụp lại mấy comment của một số "độc giả trẻ tuổi" chê bai tác phẩm, mà thật tình tôi phải đọc đi đọc lại đến cả hơn chục lần mới biết mấy bạn đó viết cái gì trên cái comments kia nữa cơ. Chắc chắn sẽ chẳng khó khăn gì để nhận ra rằng tác giả đã lồng ghép các chuyện chính trị, xì căng đan của cả nước vào những câu chuyện hư cấu của mình, ai là fan của tờ lacai.org thì đương nhiên thích cuốn này; cùng một tác giả mà lại. tôi cũng rút ra được khá nhiều suy nghĩ từ cuốn tiểu thuyết này của Phan An, sẽ tìm đọc một tác phẩm viết theo kiểu khác của Phan An nếu có cơ hội.

Tháng 04 này dự định sẽ đọc chủ yếu là tiểu thuyết thôi, tôi đang quyết tâm đọc cho xong mấy cuốn tiểu thuyết mua trước đó mà chưa đụng tới, đầu tiên sẽ bắt đầu bằng Những ngã tư và những cột đèn của Trần Dần, sau đó là Suối Nguồn (nhìn cái độ dày của nó thì đã khiếp cơ mà nhiều người nói hay nên xem thế nào). Hy vọng vẫn là một tháng tư tốt lành. 

2.4.13

Những người phụ nữ cô đơn...



Đọc những gì bạn viết , cảm giác khó chịu trong người cứ ngây ngây ra, không hiểu khó chịu vì chuyện gì. Khó chịu vì thấy buồn cho người chị gái trong câu chuyện của bạn kể hay khó chịu vì những người tôi liên tưởng đến cuộc sống chunh quanh mình, về những người phụ nữ cô đơn?

Tôi luôn cho rằng, về bản chất, con người vốn rất yếu đuối, phụ nữ thì lại càng yếu đuối hơn, đặc biệt là trong chuyện tình cảm. Có thể, tôi đã từng bắt gặp những người phụ nữ vô cùng mạnh mẽ, thế nhưng trong tình yêu, tất cả những cái gọi là độc lập, tất cả những gì gọi là nữ quyền đều biến mất để nhường chỗ cho một sự ủy mị hết mực dễ thương mà chỉ những người phụ nữ mới có. Thật sự, tôi không hoàn toàn đồng ý với những gì người chị gái trong câu chuyện của bạn đã phải làm và chịu đựng, nhưng ở một khía cạnh nào đó, qua những gì tôi chứng kiến ở những người mình thương yêu, tôi đồng cảm với những việc làm đó. Khi cô đơn, người phụ nữ có thể làm rất nhiều điều mà lúc thường ngày họ không nghĩ là mình có thể làm được. Cho dù họ quen với sự cô độc và nỗi buồn mà nó mang lại, khi có chơ hội chộp lấy được một niềm hạnh phúc mỏng manh, họ sẽ bám lấy nó, mơ tưởng đến nó, lấy nó làm hơi thở của mình, sống cùng nó, vui cùng nó, đau khổ cùng nó, từ đó làm thành một chuỗi những cảm xúc liên tiếp, dồn dập và không ngừng, đó cũng chính là lý do một khi đã “bám víu” vào cái “hạnh phúc” như thế thì họ rất khó “dứt” ra, cho dù bản thân họ đủ thông minh và đủ bản lĩnh để nhận ra rằng, thứ hạnh phúc đó cũng mơ hồ như là một giấc mơ vậy.

Chỉ khi cô đơn, chúng ta mới thấm thía được hoàn cảnh mình đáng thương biết chừng nào. Tôi đã từng chứng kiến người phụ nữ mà tôi yêu thương nhất phải đau khổ tìm kiếm niềm hạnh phúc của riêng bà ra sao. Trong cái bộn bề của cuộc sống, trong cái bận rộn của đủ thứ chuyện, tôi đã từng nghĩ chắc mẹ tôi không có đủ thời gian cho cô đơn. Thế nhưng tôi đã nhầm, cho dù có bị quay cuồng trong công việc và mọi thứ linh tinh của cuộc sống gia đình và con cái, cô đơn vẫn len lõi vào cuộc sống của bà, vẫn làm bà cảm thấy cần tìm cho mình một niềm hạnh phúc mơ hồ nào đó. Những người đàn ông đến rồi đi, đến rồi đi, hết “giấc mơ” này đến “giấc mơ” khác. Cho đến cuối cùng, bà vẫn chưa tìm được cho mình niềm hạnh phúc đích thực của quãng đời còn lại. Mà nói cho cùng, có ai biết được hạnh phúc đích thực là thế nào đâu? Chúng ta đâu thể nói rằng hạnh phúc mà mẹ tôi đang theo đuổi không phải là hạnh phúc đích thực của bà, đúng không? Chữ hạnh phúc thât khó mà định nghĩa, đó cũng là lý do mà tất cả chúng ta đều ngộ nhận nó, khoác lên nó những bộ cánh đẹp đẽ nhất để rồi từ đó nó trở nên lộng lẫy đến mức chính chúng ta cũng không thể chạm vào nó. Hạnh phúc chỉ đơn giản là chúng ta được yêu thương và yêu thương, được vui vẻ và làm cho người chúng ta yêu thương vui vẻ, vậy cũng là hạnh phúc. Có người nói rằng có được một thời gian ngắn bên cạnh người mà chúng ta thất sự yêu thương đáng giá gấp nhiều lần cuộc sống bên cạnh người chúng ta không hề yêu thương. Tôi thấy rằng điều đó thật chính xác.

Có lần mẹ kể cho tôi nghe câu chuyện về một nữ dân công đã về hưu trong xóm. Chiến tranh đã đi qua, để lại bà với một nỗi niềm cô đơn không thể tả; không người thân, không gia đình, cuộc sống lúc về già với bà là căn nhà và bốn bức tường. Cuối cùng bà cũng kiếm cho mình một “giấc mơ” mà nhiều người gọi đó là tạm bợ. Một ông chồng say xỉn và lấy đó làm cái cớ đánh đập bà. Người nói thế này, kẻ nói thế nọ nhưng rốt cuộc bà cũng không từ bỏ “giấc mơ” của mình. Bà đã vừa khóc vừa nói rằng “thà tôi bị ổng đánh, ổng chửi, còn đở hơn là từng đêm ngồi câm nín thắp đèn nhìn mình với cái bóng". Trời ơi, bị chửi, bị đánh mà vui thì mới thấy được rằng, sự cô đơn có thể làm con người chúng ta yếu đuối thế nào. Nhưng biết đâu được, người nữ dân công kia đã tìm được cho mình “một hạnh phúc đích thực” bên cạnh người chồng say xỉn kia. Đó là giấc mơ bà đã tìm thấy và hài lòng với điều đó cho đến cuối cùng. Không ai trong chúng ta biết rõ câu trả lời, chỉ mình bà mới có thể hiểu được ý nghĩa của sự lựa chọn đó.

Hạnh phúc hay không hạnh phúc? Tạm bợ hay không tạm bợ? Chỉ khi chúng ta trải qua nó chúng ta mới có thể trả lời câu hỏi đó. Khi con người cô đơn, mọi chuyện đều có thể xảy ra…